[k]a[p]a
12-10-2008, 07:30 PM
Địa Lý Lịch Sử
KIẾN TRÍ DUYÊN CÁCH BÌNH ĐỊNH
TỪ XƯA ĐẾN NAY
Bình Định nguyên xưa là đất Việt Thường Thị (1). Tục truyền rằng: Năm 2353 trước công nguyên, xứ Việt Thường Thị đem dâng rùa thần sang Trung Quốc , sau hai lần thông dịch mới hiểu được nhau. Rùa thần sống nghìn năm, vuông hơn ba thước, lưng có chữ khoa đẩu (giống hình con nòng nọc) ghi việc từ khi trời đất mới mở trở về sau. Vua Nghiêu sai người chép lại, gọi là lịch rùa (2).
Đến đời nhà Tần, sứ này là huyện Lâm Ấp thuộc Tượng Quân; đời nhà Hán là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam; đời Hậu Hán (năm 137) n gười trong quận làm chức quan nhỏ tên là Khu Liên nổi lên giết quan huyện, tự xưng là vua Lâm Ấp. Năm 605, lấy lại Lâm Ấp đặt làm Xung Châu rồi quận Lâm Ấp. Đời Đường, năm 627, đổi tên là Lâm Châu coi ba huyện (Lâm Ấp, Kim Long, Hải Giới). Năm 803, nhà Đường bỏ đất này, dân chúng dựng nước Chiên Thành, chiếm đất này làm thành Đồ Bàn (sau thị xã Bình Định) và Thị Nại (sau là thị xã Quy Nhơn). (3)
Việt Nam ta đời Lê Hồng Đức năm đầu (1470 -1471) đánh Chiêm Thành (năm sau) (1471) lấy hai thành ấy mở đất đến núi Thạch Bi (nay thuộc Phú Yên), chia làm 3 huyện: Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn và đặt Phủ Hoài Nhơn cho thuộc Quảng Nam thừa tuyên.
[(1) Quốc sử qun, Đại Nam nhất thống chí (ghi tắt NTC). Tỉnh Bình Định. Nguyễn Tạo dịch. Nha văn hố BQGGD. Si Gịn, 1964. Trang 10.
(2) Quốc sử qun, Khâm định Việt sử thơng gim cương mục. BVHGD XB. Si Gịn, 1965. Trang 64.
(3) Theo NTC. ]
Năm 1602, Nguyễn Hoàng (chúa Tiên) đổi tên làm phủ Quy Nhơn vẫn cho thuộc dinh Quảng Nam.
Năm 1651, Nguyễn Phước Tần (chúa Hiền) đổi làm phủ Quy Ninh. Năm 1742, Nguyễn Phước Khoát (chúa võ) phục lại tên cũ là Quy Nhơn.
Từ năm 1773 đến năm 1797, nhà Tây Sơn nổi lên từ đây và chiếm cứ đất này, đắp thêm thành Đồ Bẵnng là thành Hoàng Đế. Sau khi lấy lại được thành Quy Nhơn, Nguyễn Anh liền đổi tên là thành Bình Định, sai Võ Tánh và Ngô Tùng Châu chấn thủ thành này, nhưng vần để phủ Quy Nhơn.
Năm 1800, các tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu, Võ Văn Dõng bao vây thành trên 1 năm. Võ Tánh và Tùng Châu phải tuẫn tiết. Bấy giờ Nguyễn Anh đã lấy lại Phú Xuân, Quang Diệu phải bỏ thành. Nguyễn Anh liền đặt làm dinh Bình Định , đặt quan cai trị gọi là Lưu thủ, Cai bộ, Ký luật, coi như phủ Quy Nhơn.
Năm 1808, đổi dinh Bình Định thành trấn Bình Định.
Năm 1826, Gia Long đặt tri phủ phủ Quy Nhơn, lãnh coi 3 huyện: Bồng Sơn. Tuy Viễn, Phù Ly.
Năm 1831, lại cải phủ Quy Nhơn thành phủ Hoài Nhơn.
Năm 1832, chia đặt tỉnh hạt, đổi trấn làm tỉnh (tỉnh Bình Định), đặt chức tổng đốc Bình Phú (coi tỉnh Bình Định và thống hạt tỉnh Phú Yên). Lại chia huyên Tuy Viễn làm hai huyện : Tuy Viễn, Tuy Phước và đặt phủ An Nhơn. Chia huyện Phù Ly làm 2 huyện : Phù Cát, Phù Mỹ đều thuộc Phủ Hoài Nhơn như năm trước (coi cả huyện Bồng Sơn).
Năm 1834, lấy từ Bình Định vào nam đến tỉnh Bình Thuận làm Tả Kỳ.
Năm 1839, thi hành phép quân điền duy nhất tại tỉnh Bình Định (xin coi danh mục thôn, tổng, huyện, phủ có đối chiếu Hán - Việt ở phần sau).
Năm 1877, đặt nha Kinh lý An Khê ở miền thượng du huyện Tuy Viễn. Năm 1888, cải đặt làm huyện Bình Khê, thuộc phủ Hoài Nhơn.
Năm 1883, Pháp đánh Huế và đặt quyền bảo hộ.
Năm 1890, đặt châu Hoài An ở thượng du huyện Bồng Sơn.
Năm 1899, đổi làm huyện Hoài An thuộc phủ Hoài Nhơn.
TRẤN BÌNH ĐỊNH 1815 ( phủ Quy Nhơn)
Gồm 3 huyện : - Bồng Sơn coi 3 tổng với 150 ấp
- Phù Ly coi 3 tổng với 237 ấp
- Tuy Viễn coi 1 tổng - 6 thuộc với 272 ấp và 1 trang
TỈNH BÌNH ĐỊNH 1839 (theo địa bạ)
Gồm 2 phủ :
- Hoài Nhơn coi 3 huyện : Bồng Sơn, Phù Mỹ, Phù Cát
- An Nhơn coi 2 huyện : Tuy Phước, Tuy Viễn
(Danh sách đầy đủ ở phần sau)
TỈNH BÌNH ĐỊNH 1910
Trung Ky là một xứ bảo hộ, nhưng Pháp vẫn áp đặt một lối cai trị bán thuộc địa. Cạnh nhà vua có một khâm sứ Pháp , cạnh tổng đốc hay tuần phủ ở mỗi tỉnh có một công sứ Pháp. Họ nắm hết quyền hành.
Tỉnh Bình Định khi ấy rất rộng (gồm cả địa lý Kontum). Dân số 557.876 người, chia ra : 550.000 người Kinh, 7.000 người Thượng, 750 người Hoa, 120 người Pháp, 6 người An.
Cả tỉnh chia ra 7 phủ huyện:
PHỦ AN NHƠN gồm 4 tổng :
a) Tổng An Ngãi có 35 xã thôn với 32.800 người.
b) Tổng Nhơn Ngãi có 24 xã thôn với 26.800 người.
c) Tổng Mỹ Thuận có 22 xã thôn với 20.841 người.
d) Tổng Phú Phong có 13 xã thôn với 16.210 người.
2. PHỦ HOÀI NHƠN gồm 4 tổng :
a) Tổng Tài Lương có 36 xã thôn với 27.138 người.
b) Tổng An Sơn có 24 xã thôn với 16.122 người.
c) Tổng Trung An có 21 xã thôn với 18.720 người.
d) Tổng Kim Sơn có 25 xã thôn với 24.028 người.
3. PHỦ TUY PHƯỚC gồm 4 tổng :
a) Tổng Nhơn An có 35 xã thôn với 25.732 người.
b) Tổng Quảng Nghiệp có 29 xã thôn với 40.130 người.
c) Tổng Dương An có 43 xã thôn với 32.630 người.
d) Tổng Dương Xuân có 39 xã thôn với 30.833 người.
4. HUYỆN PHÙ MỸ gồm 4 tổng :
a) Tổng Vân Định có 28 xã thôn với 27.889 người.
b) Tổng Trung Thành có 36 xã thôn với 28.111 người.
c) Tổng Trung Bình có 31 xã thôn với 31.117 người.
d) Tổng Hoà Lạc có 30 xã thôn với 27.545 người.
5. HUYỆN HOÀI ÂN gồm 4 tổng :
a) Tổng Qui Hoà có 21 xã thôn với 20.759 người.
b) Tổng Hoài Đức có chợ Hội Long với 14.940 người.
c) Tổng Vân Sơn có 19 xã thôn với 12.838 người.
6. HUYỆN BÌNH KHÊ gồm 4 tổng :
a) Tổng Vĩnh Thạnh có 13 xã thôn với 12.132 người.
b) Tổng Tân Phong có 11 xã thôn với 2.680 người.
c) Tổng Thuận Tuyên có 12 xã thôn với 5.617 người.
d) Tổng An Khê có 11 xã thôn với 4.792 người.
7. HUYỆN PHÙ CÁT gồm 4 tổng :
a) Tổng Thạch Bàn có 30 xã thôn với 18.521 người.
b) Tổng Trung Chánh có 25 xã thôn với 18.086 người.
c) Tổng Xuân Yên có 37 xã thôn với 26.028 người.
d) Tổng Chánh Lộc có 35 xã thôn với 25.929 người.
Cả tỉnh Bình Định có 3 xã Minh Hương gồm 607 suất đinh trực thuộc tỉnh (1)
[ (1) Gougal, Annuaire general de l'indochine. Ideo, Hanoi - Haiphong, 1910. Trang 512-517.]
TỈNH BÌNH ĐỊNH 1915 - 1930 - 1943
Giai đoạn này, đã cắt đại lý Kontum làm tỉnh riêng, nhưng có thêm đạo Phú Yên. Bình Định gồm 5 phủ, 16 huyện, 65 tổng, 1.153 làng, dân số 931.200, trong đó 180 người Âu, 930.000 người Việt, 1.100 người Hoa. Tỉnh lỵ là Quy Nhơn (1).
Đến năm 1930, Phú Yên không còn thuộc Bình Định . Lúc này Bình Định gồm 2 phủ và 5 huyện quyền hành ngang nhau, chỉ khác là phủ quan trọng hơn huyện. Dân số 557.000. Diện tích toàn tỉnh là 5.974 km2 (2). Vào năm 1943, Bình Định có số dân 780.300 người, diện tích 6.100 km2 (3)
KIẾN TRÍ DUYÊN CÁCH BÌNH ĐỊNH
TỪ XƯA ĐẾN NAY
Bình Định nguyên xưa là đất Việt Thường Thị (1). Tục truyền rằng: Năm 2353 trước công nguyên, xứ Việt Thường Thị đem dâng rùa thần sang Trung Quốc , sau hai lần thông dịch mới hiểu được nhau. Rùa thần sống nghìn năm, vuông hơn ba thước, lưng có chữ khoa đẩu (giống hình con nòng nọc) ghi việc từ khi trời đất mới mở trở về sau. Vua Nghiêu sai người chép lại, gọi là lịch rùa (2).
Đến đời nhà Tần, sứ này là huyện Lâm Ấp thuộc Tượng Quân; đời nhà Hán là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam; đời Hậu Hán (năm 137) n gười trong quận làm chức quan nhỏ tên là Khu Liên nổi lên giết quan huyện, tự xưng là vua Lâm Ấp. Năm 605, lấy lại Lâm Ấp đặt làm Xung Châu rồi quận Lâm Ấp. Đời Đường, năm 627, đổi tên là Lâm Châu coi ba huyện (Lâm Ấp, Kim Long, Hải Giới). Năm 803, nhà Đường bỏ đất này, dân chúng dựng nước Chiên Thành, chiếm đất này làm thành Đồ Bàn (sau thị xã Bình Định) và Thị Nại (sau là thị xã Quy Nhơn). (3)
Việt Nam ta đời Lê Hồng Đức năm đầu (1470 -1471) đánh Chiêm Thành (năm sau) (1471) lấy hai thành ấy mở đất đến núi Thạch Bi (nay thuộc Phú Yên), chia làm 3 huyện: Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn và đặt Phủ Hoài Nhơn cho thuộc Quảng Nam thừa tuyên.
[(1) Quốc sử qun, Đại Nam nhất thống chí (ghi tắt NTC). Tỉnh Bình Định. Nguyễn Tạo dịch. Nha văn hố BQGGD. Si Gịn, 1964. Trang 10.
(2) Quốc sử qun, Khâm định Việt sử thơng gim cương mục. BVHGD XB. Si Gịn, 1965. Trang 64.
(3) Theo NTC. ]
Năm 1602, Nguyễn Hoàng (chúa Tiên) đổi tên làm phủ Quy Nhơn vẫn cho thuộc dinh Quảng Nam.
Năm 1651, Nguyễn Phước Tần (chúa Hiền) đổi làm phủ Quy Ninh. Năm 1742, Nguyễn Phước Khoát (chúa võ) phục lại tên cũ là Quy Nhơn.
Từ năm 1773 đến năm 1797, nhà Tây Sơn nổi lên từ đây và chiếm cứ đất này, đắp thêm thành Đồ Bẵnng là thành Hoàng Đế. Sau khi lấy lại được thành Quy Nhơn, Nguyễn Anh liền đổi tên là thành Bình Định, sai Võ Tánh và Ngô Tùng Châu chấn thủ thành này, nhưng vần để phủ Quy Nhơn.
Năm 1800, các tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu, Võ Văn Dõng bao vây thành trên 1 năm. Võ Tánh và Tùng Châu phải tuẫn tiết. Bấy giờ Nguyễn Anh đã lấy lại Phú Xuân, Quang Diệu phải bỏ thành. Nguyễn Anh liền đặt làm dinh Bình Định , đặt quan cai trị gọi là Lưu thủ, Cai bộ, Ký luật, coi như phủ Quy Nhơn.
Năm 1808, đổi dinh Bình Định thành trấn Bình Định.
Năm 1826, Gia Long đặt tri phủ phủ Quy Nhơn, lãnh coi 3 huyện: Bồng Sơn. Tuy Viễn, Phù Ly.
Năm 1831, lại cải phủ Quy Nhơn thành phủ Hoài Nhơn.
Năm 1832, chia đặt tỉnh hạt, đổi trấn làm tỉnh (tỉnh Bình Định), đặt chức tổng đốc Bình Phú (coi tỉnh Bình Định và thống hạt tỉnh Phú Yên). Lại chia huyên Tuy Viễn làm hai huyện : Tuy Viễn, Tuy Phước và đặt phủ An Nhơn. Chia huyện Phù Ly làm 2 huyện : Phù Cát, Phù Mỹ đều thuộc Phủ Hoài Nhơn như năm trước (coi cả huyện Bồng Sơn).
Năm 1834, lấy từ Bình Định vào nam đến tỉnh Bình Thuận làm Tả Kỳ.
Năm 1839, thi hành phép quân điền duy nhất tại tỉnh Bình Định (xin coi danh mục thôn, tổng, huyện, phủ có đối chiếu Hán - Việt ở phần sau).
Năm 1877, đặt nha Kinh lý An Khê ở miền thượng du huyện Tuy Viễn. Năm 1888, cải đặt làm huyện Bình Khê, thuộc phủ Hoài Nhơn.
Năm 1883, Pháp đánh Huế và đặt quyền bảo hộ.
Năm 1890, đặt châu Hoài An ở thượng du huyện Bồng Sơn.
Năm 1899, đổi làm huyện Hoài An thuộc phủ Hoài Nhơn.
TRẤN BÌNH ĐỊNH 1815 ( phủ Quy Nhơn)
Gồm 3 huyện : - Bồng Sơn coi 3 tổng với 150 ấp
- Phù Ly coi 3 tổng với 237 ấp
- Tuy Viễn coi 1 tổng - 6 thuộc với 272 ấp và 1 trang
TỈNH BÌNH ĐỊNH 1839 (theo địa bạ)
Gồm 2 phủ :
- Hoài Nhơn coi 3 huyện : Bồng Sơn, Phù Mỹ, Phù Cát
- An Nhơn coi 2 huyện : Tuy Phước, Tuy Viễn
(Danh sách đầy đủ ở phần sau)
TỈNH BÌNH ĐỊNH 1910
Trung Ky là một xứ bảo hộ, nhưng Pháp vẫn áp đặt một lối cai trị bán thuộc địa. Cạnh nhà vua có một khâm sứ Pháp , cạnh tổng đốc hay tuần phủ ở mỗi tỉnh có một công sứ Pháp. Họ nắm hết quyền hành.
Tỉnh Bình Định khi ấy rất rộng (gồm cả địa lý Kontum). Dân số 557.876 người, chia ra : 550.000 người Kinh, 7.000 người Thượng, 750 người Hoa, 120 người Pháp, 6 người An.
Cả tỉnh chia ra 7 phủ huyện:
PHỦ AN NHƠN gồm 4 tổng :
a) Tổng An Ngãi có 35 xã thôn với 32.800 người.
b) Tổng Nhơn Ngãi có 24 xã thôn với 26.800 người.
c) Tổng Mỹ Thuận có 22 xã thôn với 20.841 người.
d) Tổng Phú Phong có 13 xã thôn với 16.210 người.
2. PHỦ HOÀI NHƠN gồm 4 tổng :
a) Tổng Tài Lương có 36 xã thôn với 27.138 người.
b) Tổng An Sơn có 24 xã thôn với 16.122 người.
c) Tổng Trung An có 21 xã thôn với 18.720 người.
d) Tổng Kim Sơn có 25 xã thôn với 24.028 người.
3. PHỦ TUY PHƯỚC gồm 4 tổng :
a) Tổng Nhơn An có 35 xã thôn với 25.732 người.
b) Tổng Quảng Nghiệp có 29 xã thôn với 40.130 người.
c) Tổng Dương An có 43 xã thôn với 32.630 người.
d) Tổng Dương Xuân có 39 xã thôn với 30.833 người.
4. HUYỆN PHÙ MỸ gồm 4 tổng :
a) Tổng Vân Định có 28 xã thôn với 27.889 người.
b) Tổng Trung Thành có 36 xã thôn với 28.111 người.
c) Tổng Trung Bình có 31 xã thôn với 31.117 người.
d) Tổng Hoà Lạc có 30 xã thôn với 27.545 người.
5. HUYỆN HOÀI ÂN gồm 4 tổng :
a) Tổng Qui Hoà có 21 xã thôn với 20.759 người.
b) Tổng Hoài Đức có chợ Hội Long với 14.940 người.
c) Tổng Vân Sơn có 19 xã thôn với 12.838 người.
6. HUYỆN BÌNH KHÊ gồm 4 tổng :
a) Tổng Vĩnh Thạnh có 13 xã thôn với 12.132 người.
b) Tổng Tân Phong có 11 xã thôn với 2.680 người.
c) Tổng Thuận Tuyên có 12 xã thôn với 5.617 người.
d) Tổng An Khê có 11 xã thôn với 4.792 người.
7. HUYỆN PHÙ CÁT gồm 4 tổng :
a) Tổng Thạch Bàn có 30 xã thôn với 18.521 người.
b) Tổng Trung Chánh có 25 xã thôn với 18.086 người.
c) Tổng Xuân Yên có 37 xã thôn với 26.028 người.
d) Tổng Chánh Lộc có 35 xã thôn với 25.929 người.
Cả tỉnh Bình Định có 3 xã Minh Hương gồm 607 suất đinh trực thuộc tỉnh (1)
[ (1) Gougal, Annuaire general de l'indochine. Ideo, Hanoi - Haiphong, 1910. Trang 512-517.]
TỈNH BÌNH ĐỊNH 1915 - 1930 - 1943
Giai đoạn này, đã cắt đại lý Kontum làm tỉnh riêng, nhưng có thêm đạo Phú Yên. Bình Định gồm 5 phủ, 16 huyện, 65 tổng, 1.153 làng, dân số 931.200, trong đó 180 người Âu, 930.000 người Việt, 1.100 người Hoa. Tỉnh lỵ là Quy Nhơn (1).
Đến năm 1930, Phú Yên không còn thuộc Bình Định . Lúc này Bình Định gồm 2 phủ và 5 huyện quyền hành ngang nhau, chỉ khác là phủ quan trọng hơn huyện. Dân số 557.000. Diện tích toàn tỉnh là 5.974 km2 (2). Vào năm 1943, Bình Định có số dân 780.300 người, diện tích 6.100 km2 (3)