[k]a[p]a
05-10-2009, 05:32 PM
NGƯỜI ANH HÙNG ÁO VẢI
QUANG TRUNG - NGUYỄN HUỆ
THANH TÙNG
THỜI NIÊN THIẾU
Tại một làng quê có tên phú lạc (thuộc xã Bình An, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định ngày nay), có một gia đình họ Nguyễn có ba người con trai tên: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ sinh năm 1752 - tuy là em út, nhưng vóc dáng cao lớn, luôn sẵn lòng giúp gia đình, các anh làm được nhiều việc. Nguyễn Huệ đã sớm tỏ ra là một con người thông minh, mưu trí, nhân từ...
Tuổi thơ, Huệ giúp gia đình thả bò đi ăn ở mạn Nam sông Côn; thường hay bày trò "đánh giặc giả" với đám chăn bò trong các làng lân cận. Phe của Huệ luôn giành phần thắng, nên lũ trẻ rất thích... theo phe Huệ!
Theo truyền thuyết dân làng kể lại, một lần nọ, có một người lạ mặt tìm đến đám chăn bò, có ý thuê một đứa giúp ông một việc: Lặn xuống đáy một hồ nước cạnh chân núi, bỏ một chiếc hộp vào miệng một khe đá là miệng của một con rồng. Ông sẽ thưởng cho mười lạng bạc! Nguyễn Huệ sớm biết mưu đồ, thâm ý của ông, nên tuy không có đứa nào dám nhận lời - Huệ cương quyết lãnh nhận. Nguyễn Huệ lặng sâu xuống đáy vực, theo lời dặn dò, Huệ tìm thấy miệng hang của một con rồng. Ông không bỏ chiếc hộp vào, mà tìm một khe đá khác nhét hộp vào. Nguyễn Huệ trồi lên mặt nước, lên bờ - người đàn ông vui mừng trao cho Nguyễn Huệ mười lạng bạc! Người đàn ông lạ một ấy là một thầy địa lý nổi tiếng, ông muốn tìm long huyệt, để chôn hài cốt của cha mình, sau này ông và con cháu sẽ có mạng Đế Vương, quan to, hay giàu có. Ông đã không ngờ được một cậu bé chăn bò đã hiểu thâm ý, đánh lừa ông dễ như chơi.
Người anh cả của Nguyễn Huệ ngoài việc đồng áng, trồng trọt, còn có nghề đi buôn. Ông chèo thuyền lên mạn ngược, tìm mua trầu lá của các làng người dân tộc Bana, Rađê; rồi xuống thuyền về An Thái (xã Nhơn Phúc) để bán. Nguyễn Huệ cũng được anh nhờ theo hộ tống ghe thuyền, vì dọc đường có thể bị cướp.
Ba anh em theo học chữ với thầy Nguyễn Văn Hiến - thường gọi là thầy giáo Hiến - ở An Thái. Thầy giáo Hiến là người rất giỏi văn chương, lại rất đạo đức; được dân chúng ca ngợi. Chính ông đã đặt vào tâm hồn Nguyễn Huệ lòng yêu quý văn thơ; đặt nền móng cho những ước mơ xây dựng nền văn học chữ Nôm sau này của Nguyễn Huệ.
Người thầy dạy võ đầu tiên cho ba anh em Nguyễn Nhạc, là ông Đinh Văn Nhưng - tục gọi ông Chãng. Cả ba anh em phải khăn gói, mang gạo thóc xuống tận Phương Danh (xã Đập Đá - huyện An Nhơn) để tầm sư học võ. Ông Chãng có tướng người to con, thô kệch, rất giỏi võ nghệ, tính tình cương trực, nóng nảy. Ông cũng là một trong số rất ít gia đình có công khai hoang, lập ấp, xây dựng làng ấp; mở rộng bờ cõi cho An Nhơn...
Trong ba người học trò này, ông thường ngợi khen Nguyễn Huệ là người rất mưu trí, không những thông thuộc các thế hệ võ ông đã dạy, mà còn có nhiều sáng kiến, biến hoá riêng. Ông cũng thường để Nguyễn Huệ ra thử đấu với ông, để thử tài cao thấp. Lần nào Nguyễn Huệ cũng được ông nể phục.
CHIÊU MỘ BINH SĨ VÀ KHỞI NGHĨA
Theo sách Liệt Truyện ghi lại, Nguyễn Huệ có sức khoẻ tuyệt trần, lại có mưu trí quyền biến, mưu lược như thần. Nguyễn Huệ còn có "giọng nói vang như chuông, cái nhìn sắc như chớp".
Ba anh em Nguyễn Huệ ngày đêm chiêu mộ binh sĩ, quy tụ từng đoàn, cho luyện tập võ nghệ, thuần phục. Nguyễn Huệ còn đích thân đi cầu người hiền tài, thông hiểu binh pháp, về giúp sức cùng nghĩa binh. Vì vậy, có nhiều tướng giỏi, trung thành, trở về cùng ba anh em ông mưu tính việc khởi nghĩa... Trong đoàn quân tinh nhuệ của ông, có cả nhóm người dân tộc Bana, Radhê... cũng quyết lòng theo ông, chống lại loạn thần Trương Phúc Loan đang cùng bọn quan lại thối nát, nhiễu hại dân lành, vơ vét của cải...
Nước Nam lúc bấy giờ đã bị phân chia làm hai miền, lấy Sông Gianh làm giới tuyến: Họ Nguyễn hùng cứ phương Nam - gọi là Đàng trong (hay Nam Hà). Họ Trịnh tự xưng chúa phương Bắc - Đang ngoài (Bắc Hà). Trên tuy còn có Vua Lê, nhưng quyền hành thuộc cả vào tay hai chúa Trịnh - Nguyễn. Trong nước đã có Vua, lại có chúa, nên Vua chẳng phải là Vua, tôi không phải là tôi: Nước Nam đang ở vào thời nhiễu loạn, phân hoá trầm trọng.
Về sau, Đàng Trong có đại thần Trương Phúc Loan chuyên quyền, làm bậy Đàng Ngoài, có kiêu binh chúa Trịnh làm loạn, giết hại các quan đại thần trung tín với nhà lê. Vua phải hạ mình, nhún nhường chịu phục; còn đình thần phải khoanh tay im lặng: Nước Nam đang ở vào thời đại loạn.
Trước tình cảnh ấy, ba anh em Nguyễn Huệ quyết định khởi binh, phát xuất từ ấp Phú Lạc (Tây Sơn) vào năm 1771 - tiến đánh các huyện An Khê, An Nhơn, Tuy Viễn... Đoàn quân tấn công ở đâu, đều được dân chúng ủng hộ, giúp đỡ, xin gia nhập vào nghĩa binh ngày một đông. Đến năm 1773 - đội quân hùng mạnh của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã chiếm được thành Qui Nhơn - làm căn cứ địa vững chắc cho cuộc khởi nghĩa...
NGUYỄN HUỆ ĐÁNH NAM - DẸP BẮC
Sau một thời gian cũng cố thế lực, chuẩn bị quân lương - đội quân Tây Sơn đã tạo được nhiều thanh thế lừng lẫy qua các trận đánh đều thắng lợi, quần chúng tin theo rất đông. Nhận thấy ở Đàng Trong loạn thần Trương Phúc Loan chuyên quyền hà hiếp, cướp bóc, giết hại dân lành, chế độ nhà Nguyễn thối nát, dân tình rất cực khổ. Nguyễn Huệ đã cùng các anh là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ tiến quân vào Nam, Nguyễn Huệ đã dốc sức giúp anh chiến thắng vẻ vang, nhưng sau đó đều rút quân về Qui Nhơn, chỉ lưu lại một võ tướng và vài đạo binh để trấn giữ thành... Vì vậy, tàn quân của Chúa Nguyễn - các con cháu lưu lạc, có cơ hội tập hợp binh mã, nổi lên chống cứ lại quân Tây Sơn hòng chiếm lấy thành Gia Định, dựng lại nghiệp chúa như xưa.
Lần thứ tư, Nguyễn Huệ thống lãnh đại binh, thẳng đường vào Nam tiến đánh tàn quân nổi loạn của Chúa Nguyễn. Lần này, Chúa Nguyễn đã cầu xinh được viện binh của Xiêm La, gần hai vạn quân - gọi là đội quân "hùm beo" - rất hung dữ để chống lạ Tây Sơn. Với tài điều binh thần tốc, mưu trí hơn người, chỉ trong vong một ngày giáp chiến ác liệt, đội quân "hùm beo" của Xiêm La chỉ còn lại vài trăm tên, lủi thủi chạy về nước...
Nguyễn Nhạc phong cho em là Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương ở lại cai quản đất Gia Định kéo dài ra đến Bình Thuận...
Mặt trận Đàng Trong đã tạm yên, Nguyễn Huệ tức tốc đem binh ra Bắc Hà "hỏi tội lộng quyền, bức hiếp đình thần, truất quyền của Vua Lê, lại xâm hại dân chúng" của chúa Trịnh. Với lá cờ thêu bốn chữ vàng "Phù Lê, diệt Trịnh"; Nguyễn Huệ đã được đông đảo quan quân, dân chúng nhiệt tình ủng hộ.
Chỉ trong một tháng, quân Tây Sơn đã đánh chiếm đến thành Phú Xuân - các đội quân thuỷ bộ thẳng đường tiến ra Bắc Hà. Quân của Chúa Trịnh chống cự lại quyết liệt. Nguyễn Huệ luôn đi đầu hàng quân, tiến đánh như vũ bảo; quân sĩ một lòng trung kiên dưới cờ "Phù Lê, diệt Trịnh" của Nguyễn Huệ; tấn công quân Trịnh, chiếm giữ nhiều cứ điểm quan trọng.
Quân Tây Sơn lần lượt tiến chiếm Thuận Hoá, đến tận sông Gianh, rồi chiếm Nghệ An, Thanh Hoá... khiến cho họ Trịnh hốt hoảng, cố ngăn giữ đoạn sông chảy qua Sơn Nam. Nguyễn Huệ đã dùng mưu, lợi dụng đêm tối, ông cho năm chiếc thuyền chở đầy rơm, người nộm bằng rơm, tiến về phía địch. Quân Trịnh bắn ra tới tấp. Đạn hết. Nguyễn Huệ mới bắt đầu mở cuộc tấn công thực sự. Ông toàn thắng. "Đường đến kinh đô đã mở..."
Chúa Trịnh chạy lên Tây Sơn, giữa đường ông ta bị dân chúng vây bắt, và lúc sắp bị nộp cho quân Tây Sơn thì ông tự tử chết. Chế độ Chúa Trịnh đã bị tiêu diệt, sau 240 năm trời tồn tại (1545 - 1786). Nguyễn Huệ tiến vào thành Thăng Long giữa tiếng reo hò, chúc mừng vang dậy. Tấm chiến bào ông đang mặc đã xám đen thuốc súng, đất bụi của cuộc chiến chinh.
Làm chủ được kinh thành, Nguyễn Huệ thực hiện một kỷ luật nghiêm minh trong quân và lập lại trật tự bằng một sự công bằng nhanh gọn. Đúng vào hôm sau kéo quân vào thành Thăng Long, Nguyễn Huệ đến yết kiến Vua Lê Hiển Tông - vị vua lên ngôi từ năm 1740 dưới lòng họ Trịnh, bây giờ đã gần 70 tuổi. Nhà Vua tiếp Nguyễn Huệ ở cung Vạn Thọ. Ông ta đã cho Nguyễn Huệ đến ngồi bên cạnh mình. Nguyễn Huệ biểu hiện lòng trung thực với nhà Vua: Ông đến đây nhằm bảo vệ triều đại nhà Lê, muốn nhìn thấy nhà Lê hưng thịnh mà thôi...
Ngày 7 tháng 7 âm lịch, ngày lành - giữa rừng cờ tung bay trước gió, và những tiếng trống cồng vang động, Nguyễn Huệ cùng một số tướng lĩnh đến điện Kinh Thiên, có đủ bá quan văn võ nhà Lê tham dự... Lạy xong năm lạy, Nguyễn Huệ dâng lên Vua Lê những sổ binh và sổ hộ, với ý nghĩa triều Lê đã nắm lại thực quyền. Hiển Tông phong cho ông chức tướng, tước Uy Quốc Công và gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ.
Nguyễn Huệ kéo quân về đóng ở Phú Xuân, chỉ giao cho Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại Bắc Hà, trợ giúp Vua Lê xây dựng lại triều chính, đất nước. Vua Lê Hiển Tông băng hà, cháu là Lê Chiêu Thống lên nối ngôi. Sự yếu đuối, bất tài của Lê Chiêu Thống không vực dậy được một triều đại đã tan rã, kiệt quệ... Ngay tháng sau đó, họ Trịnh đã quay trở lại dùng vũ lực thiết lập lại những đặc quyền, đặc lợi của mình. Sự lấn át quyền hành của họ Trịnh nặng nề đến mức nhà Vua phải mất công sai người đến cầu cứu với Nguyễn Hữu Chỉnh.
Gặp dịp thuận lợi cho ý đồ mưu phản, mong chiếm trọn Bắc Hà, Nguyễn Hữu Chỉnh vội vã kéo một vạn quân về Thăng Long đánh bại quân của Trịnh Bồng, rồi nắm lấy mọi quyền hành, tự xem mình là chủ đất Bắc.
Theo lời khuyên đầy thâm ý của Chỉnh, Vua Chiêu Thống đã nhẹ dạ, khiếp nhược cử phái đoàn vào Nam xin lại đất Nghệ An; mà sẽ đem lại mối lợi lớn cho Chỉnh sau này. Nguyễn Huệ được tin Nguyễn Hữu Chỉnh tạo phản, đang nổ lực xây dựng thanh thế ở Bắc Hà, hòng tiến đánh Tây Sơn, chiếm ngôi nhà Lê; liền sai Võ Văn Nhậm ra Bắc trị tội Chỉnh...
Viên tướng Tây Sơn đã đánh tan quân Bắc Hà, tiến vào kinh thành và nhà Vua đã bỏ chạy... Nguyễn Hữu Chỉnh bị bắt, và bị hành hình; Lê Chiêu Thống phải phiêu bạt, lẫn trốn nhiều nơi. Về sau, Chiêu Thống và bà Hoàng Thái Hậu phải chạy sang Tàu, cầu cứu nhà Thanh... Trong lúc đó, Võ Văn Nhậm say men chiến thắng, lại được triều thần nhà Lê sũng ái, có nhiều quyền lực trong tay, nên bắt đầu chuyên quyền và lại muốn tạo phản. Lần này, chính Nguyễn Huệ cầm quân ra Bắc Hà dẹp loạn. Quân Võ Văn Nhậm thua trận.Võ Văn Nhậm bị bắt và hành hình vì tội phản nghịch. Nguyễn Huệ triệu tập các viên chức nhà Lê, cho phục hồi chức vị; ông không nỡ diệt nhà Lê, nên sau khi lập lại trật tự, ông giao việc cai quản Bắc Hà cho Ngô Văn Sở, rồi trở về Phú Xuân... Từ đất Quảng Ngãi trở ra đến Sông Gianh, thuộc quyền cai quản của Nguyễn Huệ - Nguyễn Nhạc đã phong cho ông là Bắc Bình Vương. Ông hùng cứ ở Phú Xuân, ngày đêm lo việc quân binh, chăm lo đời sống của dân chúng về mọi mặt...
QUANG TRUNG - NGUYỄN HUỆ
THANH TÙNG
THỜI NIÊN THIẾU
Tại một làng quê có tên phú lạc (thuộc xã Bình An, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định ngày nay), có một gia đình họ Nguyễn có ba người con trai tên: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ sinh năm 1752 - tuy là em út, nhưng vóc dáng cao lớn, luôn sẵn lòng giúp gia đình, các anh làm được nhiều việc. Nguyễn Huệ đã sớm tỏ ra là một con người thông minh, mưu trí, nhân từ...
Tuổi thơ, Huệ giúp gia đình thả bò đi ăn ở mạn Nam sông Côn; thường hay bày trò "đánh giặc giả" với đám chăn bò trong các làng lân cận. Phe của Huệ luôn giành phần thắng, nên lũ trẻ rất thích... theo phe Huệ!
Theo truyền thuyết dân làng kể lại, một lần nọ, có một người lạ mặt tìm đến đám chăn bò, có ý thuê một đứa giúp ông một việc: Lặn xuống đáy một hồ nước cạnh chân núi, bỏ một chiếc hộp vào miệng một khe đá là miệng của một con rồng. Ông sẽ thưởng cho mười lạng bạc! Nguyễn Huệ sớm biết mưu đồ, thâm ý của ông, nên tuy không có đứa nào dám nhận lời - Huệ cương quyết lãnh nhận. Nguyễn Huệ lặng sâu xuống đáy vực, theo lời dặn dò, Huệ tìm thấy miệng hang của một con rồng. Ông không bỏ chiếc hộp vào, mà tìm một khe đá khác nhét hộp vào. Nguyễn Huệ trồi lên mặt nước, lên bờ - người đàn ông vui mừng trao cho Nguyễn Huệ mười lạng bạc! Người đàn ông lạ một ấy là một thầy địa lý nổi tiếng, ông muốn tìm long huyệt, để chôn hài cốt của cha mình, sau này ông và con cháu sẽ có mạng Đế Vương, quan to, hay giàu có. Ông đã không ngờ được một cậu bé chăn bò đã hiểu thâm ý, đánh lừa ông dễ như chơi.
Người anh cả của Nguyễn Huệ ngoài việc đồng áng, trồng trọt, còn có nghề đi buôn. Ông chèo thuyền lên mạn ngược, tìm mua trầu lá của các làng người dân tộc Bana, Rađê; rồi xuống thuyền về An Thái (xã Nhơn Phúc) để bán. Nguyễn Huệ cũng được anh nhờ theo hộ tống ghe thuyền, vì dọc đường có thể bị cướp.
Ba anh em theo học chữ với thầy Nguyễn Văn Hiến - thường gọi là thầy giáo Hiến - ở An Thái. Thầy giáo Hiến là người rất giỏi văn chương, lại rất đạo đức; được dân chúng ca ngợi. Chính ông đã đặt vào tâm hồn Nguyễn Huệ lòng yêu quý văn thơ; đặt nền móng cho những ước mơ xây dựng nền văn học chữ Nôm sau này của Nguyễn Huệ.
Người thầy dạy võ đầu tiên cho ba anh em Nguyễn Nhạc, là ông Đinh Văn Nhưng - tục gọi ông Chãng. Cả ba anh em phải khăn gói, mang gạo thóc xuống tận Phương Danh (xã Đập Đá - huyện An Nhơn) để tầm sư học võ. Ông Chãng có tướng người to con, thô kệch, rất giỏi võ nghệ, tính tình cương trực, nóng nảy. Ông cũng là một trong số rất ít gia đình có công khai hoang, lập ấp, xây dựng làng ấp; mở rộng bờ cõi cho An Nhơn...
Trong ba người học trò này, ông thường ngợi khen Nguyễn Huệ là người rất mưu trí, không những thông thuộc các thế hệ võ ông đã dạy, mà còn có nhiều sáng kiến, biến hoá riêng. Ông cũng thường để Nguyễn Huệ ra thử đấu với ông, để thử tài cao thấp. Lần nào Nguyễn Huệ cũng được ông nể phục.
CHIÊU MỘ BINH SĨ VÀ KHỞI NGHĨA
Theo sách Liệt Truyện ghi lại, Nguyễn Huệ có sức khoẻ tuyệt trần, lại có mưu trí quyền biến, mưu lược như thần. Nguyễn Huệ còn có "giọng nói vang như chuông, cái nhìn sắc như chớp".
Ba anh em Nguyễn Huệ ngày đêm chiêu mộ binh sĩ, quy tụ từng đoàn, cho luyện tập võ nghệ, thuần phục. Nguyễn Huệ còn đích thân đi cầu người hiền tài, thông hiểu binh pháp, về giúp sức cùng nghĩa binh. Vì vậy, có nhiều tướng giỏi, trung thành, trở về cùng ba anh em ông mưu tính việc khởi nghĩa... Trong đoàn quân tinh nhuệ của ông, có cả nhóm người dân tộc Bana, Radhê... cũng quyết lòng theo ông, chống lại loạn thần Trương Phúc Loan đang cùng bọn quan lại thối nát, nhiễu hại dân lành, vơ vét của cải...
Nước Nam lúc bấy giờ đã bị phân chia làm hai miền, lấy Sông Gianh làm giới tuyến: Họ Nguyễn hùng cứ phương Nam - gọi là Đàng trong (hay Nam Hà). Họ Trịnh tự xưng chúa phương Bắc - Đang ngoài (Bắc Hà). Trên tuy còn có Vua Lê, nhưng quyền hành thuộc cả vào tay hai chúa Trịnh - Nguyễn. Trong nước đã có Vua, lại có chúa, nên Vua chẳng phải là Vua, tôi không phải là tôi: Nước Nam đang ở vào thời nhiễu loạn, phân hoá trầm trọng.
Về sau, Đàng Trong có đại thần Trương Phúc Loan chuyên quyền, làm bậy Đàng Ngoài, có kiêu binh chúa Trịnh làm loạn, giết hại các quan đại thần trung tín với nhà lê. Vua phải hạ mình, nhún nhường chịu phục; còn đình thần phải khoanh tay im lặng: Nước Nam đang ở vào thời đại loạn.
Trước tình cảnh ấy, ba anh em Nguyễn Huệ quyết định khởi binh, phát xuất từ ấp Phú Lạc (Tây Sơn) vào năm 1771 - tiến đánh các huyện An Khê, An Nhơn, Tuy Viễn... Đoàn quân tấn công ở đâu, đều được dân chúng ủng hộ, giúp đỡ, xin gia nhập vào nghĩa binh ngày một đông. Đến năm 1773 - đội quân hùng mạnh của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã chiếm được thành Qui Nhơn - làm căn cứ địa vững chắc cho cuộc khởi nghĩa...
NGUYỄN HUỆ ĐÁNH NAM - DẸP BẮC
Sau một thời gian cũng cố thế lực, chuẩn bị quân lương - đội quân Tây Sơn đã tạo được nhiều thanh thế lừng lẫy qua các trận đánh đều thắng lợi, quần chúng tin theo rất đông. Nhận thấy ở Đàng Trong loạn thần Trương Phúc Loan chuyên quyền hà hiếp, cướp bóc, giết hại dân lành, chế độ nhà Nguyễn thối nát, dân tình rất cực khổ. Nguyễn Huệ đã cùng các anh là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ tiến quân vào Nam, Nguyễn Huệ đã dốc sức giúp anh chiến thắng vẻ vang, nhưng sau đó đều rút quân về Qui Nhơn, chỉ lưu lại một võ tướng và vài đạo binh để trấn giữ thành... Vì vậy, tàn quân của Chúa Nguyễn - các con cháu lưu lạc, có cơ hội tập hợp binh mã, nổi lên chống cứ lại quân Tây Sơn hòng chiếm lấy thành Gia Định, dựng lại nghiệp chúa như xưa.
Lần thứ tư, Nguyễn Huệ thống lãnh đại binh, thẳng đường vào Nam tiến đánh tàn quân nổi loạn của Chúa Nguyễn. Lần này, Chúa Nguyễn đã cầu xinh được viện binh của Xiêm La, gần hai vạn quân - gọi là đội quân "hùm beo" - rất hung dữ để chống lạ Tây Sơn. Với tài điều binh thần tốc, mưu trí hơn người, chỉ trong vong một ngày giáp chiến ác liệt, đội quân "hùm beo" của Xiêm La chỉ còn lại vài trăm tên, lủi thủi chạy về nước...
Nguyễn Nhạc phong cho em là Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương ở lại cai quản đất Gia Định kéo dài ra đến Bình Thuận...
Mặt trận Đàng Trong đã tạm yên, Nguyễn Huệ tức tốc đem binh ra Bắc Hà "hỏi tội lộng quyền, bức hiếp đình thần, truất quyền của Vua Lê, lại xâm hại dân chúng" của chúa Trịnh. Với lá cờ thêu bốn chữ vàng "Phù Lê, diệt Trịnh"; Nguyễn Huệ đã được đông đảo quan quân, dân chúng nhiệt tình ủng hộ.
Chỉ trong một tháng, quân Tây Sơn đã đánh chiếm đến thành Phú Xuân - các đội quân thuỷ bộ thẳng đường tiến ra Bắc Hà. Quân của Chúa Trịnh chống cự lại quyết liệt. Nguyễn Huệ luôn đi đầu hàng quân, tiến đánh như vũ bảo; quân sĩ một lòng trung kiên dưới cờ "Phù Lê, diệt Trịnh" của Nguyễn Huệ; tấn công quân Trịnh, chiếm giữ nhiều cứ điểm quan trọng.
Quân Tây Sơn lần lượt tiến chiếm Thuận Hoá, đến tận sông Gianh, rồi chiếm Nghệ An, Thanh Hoá... khiến cho họ Trịnh hốt hoảng, cố ngăn giữ đoạn sông chảy qua Sơn Nam. Nguyễn Huệ đã dùng mưu, lợi dụng đêm tối, ông cho năm chiếc thuyền chở đầy rơm, người nộm bằng rơm, tiến về phía địch. Quân Trịnh bắn ra tới tấp. Đạn hết. Nguyễn Huệ mới bắt đầu mở cuộc tấn công thực sự. Ông toàn thắng. "Đường đến kinh đô đã mở..."
Chúa Trịnh chạy lên Tây Sơn, giữa đường ông ta bị dân chúng vây bắt, và lúc sắp bị nộp cho quân Tây Sơn thì ông tự tử chết. Chế độ Chúa Trịnh đã bị tiêu diệt, sau 240 năm trời tồn tại (1545 - 1786). Nguyễn Huệ tiến vào thành Thăng Long giữa tiếng reo hò, chúc mừng vang dậy. Tấm chiến bào ông đang mặc đã xám đen thuốc súng, đất bụi của cuộc chiến chinh.
Làm chủ được kinh thành, Nguyễn Huệ thực hiện một kỷ luật nghiêm minh trong quân và lập lại trật tự bằng một sự công bằng nhanh gọn. Đúng vào hôm sau kéo quân vào thành Thăng Long, Nguyễn Huệ đến yết kiến Vua Lê Hiển Tông - vị vua lên ngôi từ năm 1740 dưới lòng họ Trịnh, bây giờ đã gần 70 tuổi. Nhà Vua tiếp Nguyễn Huệ ở cung Vạn Thọ. Ông ta đã cho Nguyễn Huệ đến ngồi bên cạnh mình. Nguyễn Huệ biểu hiện lòng trung thực với nhà Vua: Ông đến đây nhằm bảo vệ triều đại nhà Lê, muốn nhìn thấy nhà Lê hưng thịnh mà thôi...
Ngày 7 tháng 7 âm lịch, ngày lành - giữa rừng cờ tung bay trước gió, và những tiếng trống cồng vang động, Nguyễn Huệ cùng một số tướng lĩnh đến điện Kinh Thiên, có đủ bá quan văn võ nhà Lê tham dự... Lạy xong năm lạy, Nguyễn Huệ dâng lên Vua Lê những sổ binh và sổ hộ, với ý nghĩa triều Lê đã nắm lại thực quyền. Hiển Tông phong cho ông chức tướng, tước Uy Quốc Công và gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ.
Nguyễn Huệ kéo quân về đóng ở Phú Xuân, chỉ giao cho Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại Bắc Hà, trợ giúp Vua Lê xây dựng lại triều chính, đất nước. Vua Lê Hiển Tông băng hà, cháu là Lê Chiêu Thống lên nối ngôi. Sự yếu đuối, bất tài của Lê Chiêu Thống không vực dậy được một triều đại đã tan rã, kiệt quệ... Ngay tháng sau đó, họ Trịnh đã quay trở lại dùng vũ lực thiết lập lại những đặc quyền, đặc lợi của mình. Sự lấn át quyền hành của họ Trịnh nặng nề đến mức nhà Vua phải mất công sai người đến cầu cứu với Nguyễn Hữu Chỉnh.
Gặp dịp thuận lợi cho ý đồ mưu phản, mong chiếm trọn Bắc Hà, Nguyễn Hữu Chỉnh vội vã kéo một vạn quân về Thăng Long đánh bại quân của Trịnh Bồng, rồi nắm lấy mọi quyền hành, tự xem mình là chủ đất Bắc.
Theo lời khuyên đầy thâm ý của Chỉnh, Vua Chiêu Thống đã nhẹ dạ, khiếp nhược cử phái đoàn vào Nam xin lại đất Nghệ An; mà sẽ đem lại mối lợi lớn cho Chỉnh sau này. Nguyễn Huệ được tin Nguyễn Hữu Chỉnh tạo phản, đang nổ lực xây dựng thanh thế ở Bắc Hà, hòng tiến đánh Tây Sơn, chiếm ngôi nhà Lê; liền sai Võ Văn Nhậm ra Bắc trị tội Chỉnh...
Viên tướng Tây Sơn đã đánh tan quân Bắc Hà, tiến vào kinh thành và nhà Vua đã bỏ chạy... Nguyễn Hữu Chỉnh bị bắt, và bị hành hình; Lê Chiêu Thống phải phiêu bạt, lẫn trốn nhiều nơi. Về sau, Chiêu Thống và bà Hoàng Thái Hậu phải chạy sang Tàu, cầu cứu nhà Thanh... Trong lúc đó, Võ Văn Nhậm say men chiến thắng, lại được triều thần nhà Lê sũng ái, có nhiều quyền lực trong tay, nên bắt đầu chuyên quyền và lại muốn tạo phản. Lần này, chính Nguyễn Huệ cầm quân ra Bắc Hà dẹp loạn. Quân Võ Văn Nhậm thua trận.Võ Văn Nhậm bị bắt và hành hình vì tội phản nghịch. Nguyễn Huệ triệu tập các viên chức nhà Lê, cho phục hồi chức vị; ông không nỡ diệt nhà Lê, nên sau khi lập lại trật tự, ông giao việc cai quản Bắc Hà cho Ngô Văn Sở, rồi trở về Phú Xuân... Từ đất Quảng Ngãi trở ra đến Sông Gianh, thuộc quyền cai quản của Nguyễn Huệ - Nguyễn Nhạc đã phong cho ông là Bắc Bình Vương. Ông hùng cứ ở Phú Xuân, ngày đêm lo việc quân binh, chăm lo đời sống của dân chúng về mọi mặt...