| Văn Học Những Bài VĂn Mẫu Hay, Kho VĂn Mẫu CHo , Đề thi văn , Cách Học VĂn Hiệu Quả |
04-22-2010, 12:07 AM
|
#1
|
|
Phân tích bài thơ Thu điếu - Nguyễn Khuyến
Mem TuoiTreQuynhon
rongxanhqn
|

04-22-2010, 12:07 AM
Ðiểm:
()
Phân tích bài thơ Thu điếu - Nguyễn Khuyến
Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất trong VHVn là về thơ Nôm. Mà trong thơ Nôm NK nức danh nhất là chum 3 bài thơ thu: Thu điếu, thu ẩm, thu vịnh. CHúng đã được truyền trong hành trăm năm nay.
Được nhớ, thuộc và truyền tụng vì là ba bào thơ hay và điển hình nhất cho mùa thu ở VN, ở miền Bắc nước ta, chứ không phải ở nơi nào khác.
Tiêu biểu hơn cả là bài Thu điếu.
Như thấy trước mặt làng cảnh ao chuôm nông thôn đồng bằng Bắc Bộ trong tiết thu ấy: rất là đất nước nhà mình., có thật, rất sống, chứ không ước lệ như trong văn chương, sách vở. Người đọc rất tinh, đã thuộc ba bài thơ thu này, mà không thuộc được các bài thơ thu khác của các tác giả khác. Những thế kỉ về trước, ngay đến cả thời Hồng Đức, văn học Nôm đã khá thịnh thế mà vẫn phải như con rồng uốn mình vật vã để cất bổng lên, nửa mình đã cất lên, nủa mình vẫn chư a bay bổng lên được: phảng phất nhiều trong sách vở, phụ thuộc nhiều vào ước lệ… ….
Có về thăm vườn Bùi chốn cũ mới càng hiểu rõ bài Ao thu lạnh lẽo nước trong veo. Sao lắm ao thế! Nhiều ao cho nên nhỏ, ao nhỏ thì thuyền câu cũng theo đó mà nhỏ theo, mà bé tẻo teo. Sóng biếc gợn rất nhẹ, một chiếc lá vàng rụng trong gió, bay bay xoay xoay rồi rơi xuống xa xa một cách khẽ khàng. Khung ao tuy hẹp vậy nhưng làng cảnh cũng không thiếu gì không gian. Nhìn lên, trời thu xanh cao, đám mây đọng lơ lửng, trông quanh các lối đi mọc quanh làng hai bên tre mọc sầm uất, chạy ngoắt nghoéo cho đến khi tưởng như tre đã kín lại; mọi người ra đồng làm, cho nên cảnh vắng teo.
Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài, như con gà ngon, ngon ở từng phao câu đầu cánh lắt léo khuỷu xương, không thể tóm tắt thơ được mà phải đọc lại.
Cái thú vị ở Thu điếu là các điệu xanh: xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một mày vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi; ở những cử động; chiếc thuyền con lâu lâu mới nhích, sóng gợn tí, lá đưa vèo, tầng mây lơ lửng, ngõ trúc quanh, chiếc cần buông, con cá động;;ở các vần thơ: không phỉ chỉ giỏi là những tử vận hiểm hóc, mà chính hay vì kết hợp với từ, với nghĩa chữ, đến một cách thoải mái, đúng chỗ, do một nhà nghệ sĩ cao tay.
(Xuan DIệu- Nhà thơ của lành cảnh Việt Nam)
Bài thơ nói chuyện câu cá mùa thu nhưng chủ yếu tả cảnh mùa thu ở đồng bằng BB, quê hương tác giả. Cảnh đơn sơ. Trung tâm là cái ao. Nước, thuyền, sóng, cá, lá, người câu, ôm, tựa, đớp … đều thuộc cái ao. Từng mây là từ cái ao trông lên. Ngõ trúc là từ cái ao nhìn rộng ra. Có sóng gợn, lá đưa, cá đớp nhưng bao trùm tất cả là sự vắng lặng, mênh mông của một khoảnh khắc thu quê. Khoảnh khắc ấy là lúc nhà thơ ngồi câu, lắng mình chờ cá và nghe được cái vấng lặng của đất trời thu.
Hai câu đề chắc chắn, không những gợi ra thời gian, việc câu cá mà còn cả không gian (cái ao). Mùa thu nên nước trong veo, mặt ao lạnh lẽo. ở miền Bắc, sau trung thu… có những ngày trời mát, có khi se lạnh, dễ chịu nhưng cũng có những ngày lạnh lẽo. …. Không thấy nói ao rộng, nhưng thấy thuyền bé tẻo teo nên ao hóa rộng. Lại ao thu, nên có gì mệnh mông, bến bờ như lan ra, mờ đi, chỉ có nước thêm trong, trong veo như nhìn thấy đáy. Chiếc thuyền nhỏ như muốn thu mình giấu trong cảnh. Cảnh ao càng thêm vắng lặng..;.
… Mặt ao xanh biếc, gió vuốt khẽ qua, sóng gợn rất nhẹ, dường như không gợn. Từng làn, từng làn theo nhau lan rộng lặng lẽ, im lìm. Một vài chiếc lá vàng từ trên cành cây bên bờ rơi trong gió. Gió đưa, gió đỡ rơi xuống mặt ao xanh cũng im lìm không một tiếng động. Lá lùng không! Gió, sóng gợn, lá bay; bao nhiêu cử động thế mà vẫn im lìm, vắng lặng. Không phải ngẫu nhiên mà một chút cảnh thu vờn vẽ đơn sơ mà thật thanh tú bằng một làn nước xanh biếc điểm vào một nét vàng nhạt của lá rơi…..
Mùa thu câu cá là bức tranh thanh đạm kiểu thủy mặc. Cánh vật đơn sơ mấy nét. Màu sắc thanh nhã hài hòa, không gay gắt. Cử chỉ ít ỏi, tiết kiệm. Cảnh vật lắng mình vào. Khoảnh khắc mùa thu của con người ngồi kiên nhẫn chờ cá đớp mồi này là như vậy….
<Lê Trí Viễn>
Tả cảnh để tả tình, mượn cảnh nói tình theo lối đề vịnh. Hai câu đề gợi ra cảnh Thu điếu với ao thu và thuyền câu nhưng nhà thơ hầu như không có hứng thú gì với chuyện câu cá mà chỉ đắm say với không khí và cảnh sắc mùa thu.
Ngay câu đầu đã gọi ao nhà là ao thu. Và ao thu lạnh lẽo nước trong veo thì thaajt không thích hợp với việc câu cá có hiệu quả. Tiếp theo, cảm hứng thu hoàn toàn chìm đắm trong cảnh sắc thu. Cảnh trong và tĩnh gần như tuyệt đối: nước trong veo, trời xanh ngắt, khách vắng teo. Giác quan phải cực kì tinh nhạy và hết sức chăm chú mới nhận ra được những biểu hiện nhỏ nhặt tinh vi chỉ làm tôn thêm cho cái trong cái tĩnh của khung cảnh đầy màu sắc, làn gió rất nhẹ chỉ làm nước ao hơi gợn và lá vàng khẽ đưa. Tâng mây lơ lửng không che được bầu trời xanh ngắt. Ngõ trúc quanh co như làm tăng thêm chiều sâu thanh vắng. Bốn câu thơ vẽ không khí thanh tĩnh, trong trẻo của mùa thu……..
(Trần Đình Sử)
….. Ai đó, khi đọc Thu vịnh, Thu ẩm chỉ khen bức tranh làng cảnh Việt Nam đẹp dẽ, thơ mộng chung chung mà không mường tượng ra dáng hình nhà thơ đang ngơ ngác trước thiên nhiên,, không thấm thía tâm trạng người tri thức đang ngượng ngùng, có lúc buồn muốn buông xuôi, quên lãng… Thì gần như là chưa đọc Nguyễn Khuyến. Ai đó, chỉ dùng ở Thu Vinhhj, Thu ẩm thì cũng là chưa hiểu hết Nguyễn Khuyến. Phải đọc tiếp thu điếu mới trọn vẹn bức tranh tam bình (tiếc thay chưa phải tứ bình) mùa thu của một nhà thơ Yen Đổ, một vùng quê Yên Đổ.
,,,,Bài thơ lấy đề tài không mới, nói về một công việc không lạ. Song so với việc làm thơ, việc uống rượu thì việc câu cá trong bài thu điếu dù sao cũng thú vị hơn. Thú vị nhất là hai câu kết:
Tự gối ôm cần lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo
Khi vẽ Lã Vọng (Khương Tử Nha) câu cá, nhiều họa sĩ thường dựng một hình ảnh con người thanh thảnm thoát tục, vói tóc râu bạc pho phất, quần áo thùng thình bên bờ suối, giữa núi rừng bao la, thoáng rộng. Bằng hai câu kết Thu Điếu, cụ Tam Nguyên dã tự họa một bức chân dung khác hẳn, từ không gian tạo nên “ao thu trong veo” đến địa điểm dựng nhân vật “chiếc thuyền bé tẻo teo” và cái dáng ngồi tựa gối ôm cần…., tất cả đang thu lại, nhỏ dần, nhỏ bé, tưởng chừng như một cái chấm. Song không phải là một cái chấm im lặng. Thoát tục, một dấu chấm hết….
./.. Đi câu ai chả mong mau được cá. Vậy mà :”lâu chẳng được”. Vì thế ý thơ bật ra thành những lời than thở, những tiếng thì thào mong mỏi, những tiếng gọi… CỤ Tam Nguyên than thở về việc câu không được cá hay đang than cho vận nước cứ mãi hắt hiu như mặt ao nhỏ hẹp… Dưới cái mặt ao thu phẳng lặng và trong veo kia vẫn đau đáu một nỗi chờ đợi, một niềm tin, niềm hi vọng. Và có chăng một tiếng gọi thì thầm mà da diết, tiếng gọi của con chim cuốc đau đời, nhớ nước “Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ”(Cuốc kêu cảm hứng)
__________________Nguồn: http://tuoitrequynhon.com
:

|
|
|
|
Lần đọc: 16756
|
Chủ đề tương tự |
|
|
04-23-2010, 03:58 PM
|
#2
|
|
|
Ðề: Phân tích bài thơ Thu điếu - Nguyễn Khuyến
Phân tích bài thơ Câu cá mùa thu (Thu điếu) của Nguyễn
Khuyến
Thu điếu nằm trong chùm thơ thu ba bài nức danh nhất về
1 thơ Nôm của Nguyễn Khuyến. Bài thơ nói lên một nét thu
đẹp tĩnh lặng nơi làng quê xưa, biểu lộ mối tình thu đẹp mà cô đơn,
buồn của một nhà nho nặng tình với quê hương đất nước. Thu điếu
cũng như Thu ẩm, Thu vịnh chỉ có thể được Nguyễn Khuyến viết vào
thời gian sau khi ông đã từ quan về sống ở quê nhà (1884).
Hai câu thơ: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo - Một chiếc thuyền
câu bé tẻo teo mở ra một không gian nghệ thuật, một cảnh sắc
mùa thu đồng quê. Chiếc ao thu nước trong veo có thể nhìn được
rong rêu tận đáy tỏa ra khí thu lạnh lẽo như bao trùm không gian.
Không còn cái se lạnh đầu thu nữa mà là đã thu phân, thu mạt rồi
nên mới lạnh lẽo như vậy. Trên mặt ao thu đã có một chiếc thuyền
câu bé tẻo teo tự bao giờ. Một chiếc gợi tả sự cô đơn của thuyền
câu Bé tẻo teo nghĩa là rất bé nhỏ; âm điệu của vần thơ cũng gợi
ra sự tun hút của cảnh vật (trong veo - bé tẻo teo). Đó là một nét
thu đẹp và êm đềm.
Hai câu thực (Sông biếc theo làn hơi gợn tí - Lá vàng trước gió
khẽ đưa vèo) tá không gian hai chiều. Màu sắc hòa hợp, có sóng biếc
với lá vàng Gió thổi nhẹ cũng đủ làm cho chiếc lá thu màu vàng
khẽ đưa vèo, làm cho sóng biếc lăn tăn từng làn từng làn hơi gợn tí.
Phép đối tài tình làm nổi bật một nét thư, tô đậm cái nhìn thấy và
cái nghe thấy. Ngòi bút của Nguyễn Khuyến rất tinh tế trọng dùng
từ và cảm nhận, lấy cái lăn tăn của sóng hơi gợn tí phối cảnh với độ
bay xoay xoay khẽ đưa vẻo của chiếc lá thu. Chữ vẻo là một nhãn tự
mà sau này thi sĩ Tản Đà vừa khâm phục, vừa tâm đắc. ông thổ lộ
một đời thơ mới có được một. câu vừa ý: Vèo trông lá rụng đầy sân"
(cảm thu, tiễn thu).
Bức tranh thu được mở rộng dần ra qua hai câu thơ:
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Bầu trời thu xanh ngắt thăm thẳm, bao la. áng mây, tầng mây
(trắng hay hồng ?) lơ lửng nhè nhẹ trôi. Thoáng đãng, êm đềm,
tĩnh lặng và nhẹ nhàng. Không một bóng người lại qua trên con
đường làng đi về các ngõ xóm: Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Vắng teo nghĩa là vô cùng vắng lặng không một tiếng động nhỏ
nào, cũng gợi tả sự cô đơn, trống vắng. Ngõ trúc trong thơ Tam
nguyên Yên Đo lúc nào cũng gợi tả một tình quê nhiều bâng
khuâng, man mác:
Dặm thế, ngõ đâu từng trúc ấy
Thuyền ai khách đợi bến dâu đây?
(Nhớ núi Đọi)
Ngõ trúc và tầng mây cũng là một nét thu đẹp và thân thuộc
của làng quê. Thi sĩ .như đang lặng ngắm và mơ màng đắm chìm
vào cảnh vật.
Đến hai câu kết thì bức tranh thu mới xuất hiện một dối tượng khác:
Tựa gối ôm cắn lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Thu điếu nghĩa là mùa thu câu cá. Sáu câu đầu mới chỉ có cảnh
vật: ao thu, chiếc thuyền câu, sóng biếc, lá vàng, tầng mây, ngõ
trúc mãi đến phần kết mới xuất hiện người câu cá. Một tư thế
nhàn: tựa gối ôm cần. Một sự đợi chờ: lâu chẳng được. Một cái
chợt tỉnh khi mơ hồ nghe cá đâu đớp động dưới chân bèo. Người
câu cá như đang ru hồn mình trong giấc mộng mùa thu. Người đọc
nghĩ vế một Lã Vọng câu cá chờ thời bên bờ sông Vị hơn mấy
nghìn năm về trước. Chỉ có một tiếng cá đớp động sau tiếng lá thu
đưa vèo, đó là tiếng thu của làng quê xưa. âm thanh ấy hòa quyện
với một tiếng trên không ngỗng nước nào, như đưn hồn ta về với
mùa thu quê hương. Người câu cá đang sống trong một tâm trạng
cô đơn và lặng lẽ buồn: Một cuộc đời thanh bạch, một tâm hồn
thanh cao đáng trọng.
Xuân Diệu đã hết lời ca ngợi cái diệu xanh trong Thu điếu. Có
xanh ao, xanh sóng, xanh trời, xanh tre, xanh bèo... và chỉ có một
màu vàng của chiếc lá thu đưa vèo. Cánh đẹp êm đềm, tĩnh lặng
mà man mác buồn. Một tâm thế nhàn và thanh cao gắn bó với
mùa thu quê hương, với tình yêu tha thiết. Mỗi nét thu là một sắc
thu, tiếng thu gợi tả cái hồn thu đồng quê thân thiết. Vần thơ: veo
- teo - vèo - teo - bèo, phép đối tạo nên sự hài hòa cân xứng, điệu
thơ nhẹ nhàng bâng khuâng... cho thấy một bút pháp nghệ thuật
vô cùng điêu luyện, hồn nhiên - đúng là xuất khẩu thành chương.
Thu điếu là một bài thơ thu, tả cảnh ngu tình tuyệt bút.
|
|
|
05-15-2010, 10:06 PM
|
#3
|
Giới tính: 
Đến từ: Hà Nội
Tuổi: 19
Thành viên thứ: 145955
|
Ðề: Phân tích bài thơ Thu điếu - Nguyễn Khuyến
Tâm sự của nhà thơ gửi gắm trong thiên nhiên, cảnh vật. Mỗi hình ảnh đều thấm đượm nỗi buồn của nhà thơ.
- Tâm trạng của nhà thơ thể hiện qua hình ảnh thơ: Ông già câu cá
"Tựa gối buông cần lâu chẳng được".
+ Ông già cố thu nhỏ lại ngồi gần như bất động trên chiếc thuyền câu
+ Mượn việc câu cá để gửi nỗi sầu thầm kín không dễ dàng bộc bạch cùng ai, nỗi sầu ngày càng chất chứa, khôn nguôi
- Hình ảnh "Cá đâu đớp động dưới chân bèo"
có hoặc không có tiếng cá, tất cả đều rất mơ hồ (đâu)
=> Nghệ thuật lấy cái động để làm nổi cái tĩnh
=> Hình ảnh đó thể hiện tâm trạng thẫn thờ, u uẩn của nhà thơ trước thực tại mà không thể lý giải nổi
Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.
...............**************...............
I will l0ve f0r the rest of my life
|
|
|
08-28-2012, 06:28 PM
|
#4
|
|
|
Ðề: Phân tích bài thơ Thu điếu - Nguyễn Khuyến
Bài Tiếp Theo Củng Khá Hay
Mùa thu vốn là một đề tài quen thuộc trong thơ ca Việt Nam. Thu thường mang đến cho thi sĩ một nỗi buồn man mác, gợi nhớ hay nuối tiếc về một cái gì đó xa xôi, đầy bí ẩn. Dường như không ai vô tình mà không nói đến cảnh thu, tình thu khi đã là thi sĩ...
Đến với Nguyễn Khuyến, chúng ta sẽ thấy được điều đó. Cảnh mùa thu trong thơ ông không phải là mùa thu ở bất cứ miền nào, thời nào, mà là mùa thu ở quê ông, vùng đồng chiêm Bắc Bộ lúc bấy giờ. Chỉ với bầu trời “xanh ngắt” (Thu vịnh), với cái nước “trong veo” của ao cá (Thu điếu), và cái “lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, làn ao lóng lánh bóng trăng loe” ( Thu ẩm). Nguyễn Khuyến đã làm say đắm lòng bao thế hệ! Khi nhận xét về bải thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu có viết: “Bài thơ thu vịnh là có thần hơn hết, nhưng ta vẫn phải nhận bài Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”. Vậy ta thử tìm hiểu xem thế nào mà “Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”?
Nếu như ở Thu vịnh, mùa thu được Nguyễn Khuyến đón nhận từ cái không gian thoáng đãng, mênh mông, bát ngát, với cặp mát hướng thượng, khám phá dần các tầng cao của mùa thu để thấy được: “ Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”, thì ở Thu điếu, nhà thơ không tả mùa thu ở một khung cảnh thiên nhiên rộng rãi, không phải là trời thu, rừng thu hay hồ thu, mà lại chỉ gói gọn trong một ao thu: ao chuôm là đặc điểm của vùng đồng chiêm trũng, vùng quê của Nguyễn Khuyến:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Câu thơ đầu tồn tại hai vần “eo”, câu thơ thể hiện sự co lại, đọng lại không nhúc nhích, cho ta một cảm giác lạnh lẽo, yên tĩnh một cách lạ thường. Không có từ “lẽo” và từ “veo” cũng đủ cho ta thấy cảnh tĩnh, nhưng thêm hai từ này lại càng thấy cảnh tĩnh hơn nữa. Khung ao tuy hẹp nhưng tác giả lại không bị giới hạn mà mở rộng ra nhiều chiều, trong cái không khí se lạnh đó dường như làm cho làn nước ao ở độ giữa thu, cuối thu như trong trẻo hơn. Những tưởng trong “ao thu lạnh lẽo” ấy, mọi vật sẽ không xuất hiện, thế mà thật bất ngờ: Khung ao không trống vắng mà có “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Có khung cảnh thiên nhiên và có dấu vết của cuộc sống con người, khiến cảnh thu thêm được phần nào ấm cúng. Chiếc thuyền “tẻo teo” trông thật xinh xắn. Câu thơ đọc lên, làm cho đối tượng miêu tả trở nên gần gũi và thân mật biết bao!Với hai câu mở đầu, nhà thơ sử dụng những từ ngữ gợi hình ảnh, tạo độ gợi cao: “lẽo”, “veo”, “tẻo teo” mang đến cho người đọc một nỗi buồn man mác, cảnh vắng vẻ, ít người qua lại. Và rồi hình ảnh:
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo
Càng làm cho không khí trở nên tĩnh lặng hơn, nhà thơ đã dùng vcái động của “lá vàng trước gió” để miêu tả cái tĩnh của cảnh thu làng quê Việt Nam. Những cơn gió mùa thu đã xuất hiện và mang theo cái lạnh trở về, khiến ao thu không còn “lạnh lẽo”, không còn tĩnh lặng nữa vì mặt hồ đã “gợn tí”, “lá vàng khẽ đưa vèo”, cảnh vật dường như đã bắt đầu thay đổi hẳn đi! Cơn “sóng biếc” nhỏ “hơi gợn tí” và chiếc lá “trước gió khẽ đưa vèo” tưởng như mâu thuẫn với nhau, nhưng thật ra ở đây Nguyễn Khuyến đã quan sát kĩ theo chiếc lá bay trong gió, chiếc lá rất nhẹ và thon thon hình thuyền, chao đảo liệng đi trong không gian, rơi xuống mặt hồ yên tĩnh. Quả là phải có một tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống thật sâu sắc thì Nguyễn Khuyến mới có thể cảm nhận được những âm thanh tinh tế, tưởng chừng như chẳng ai để ý đến như thế! Như trên đã nói: mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng vần “eo” nhưng tác giả không bị giới hạn mà đã mở rộng không gian theo chiều cao, tạo nên sự khoáng đạt, rộng rãi cho cảnh vật:
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo
Bầu trời thu xanh ngắt xưa nay vẫn là biểu tượng đẹp của mùa thu. Những áng mây không trôi nổi bay khắp bầu trời mà “lơ lửng”. Trước đây Nguyễn Du đã từng viết về mùa thu với:
Long lanh đáy nước in trời
Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng
Nay Nguyễn Khuyến cũng thế. Mở ra không gian rộng, cảm hứng Nguyễn Khuyến lại trở về với khung cảnh làng quê quen thuộc cũng vẫn hình ảnh tre truc, vẫn bầu trời thu ngày nào, vẫn ngõ xóm quanh co…tất cả đều thân thương vè nhuốm màu sắc thôn quê Việt Nam. Chỉ đến với Nguyễn Khuyến, chúng ta mới thấy được những nét quê tĩnh lặng, êm ả như vậy. Trời sang thu, không khí giá lạnh, đường làng cũng vắng vẻ. “Ngõ trúc quanh co” cũng “vắng teo” không bóng người qua lại. Sau này Xuân Diệu trong bài Đây mùa thu tới cũng đã bắt đựơc những nét điển hình đó của sông nước ở vùng quê, khi trời đã bắt đầu bước vào những ngày giá lạnh:
Những luồng run rẩy rung rinh lá…
… Đã nghe rét mướt luồn trong gió
Đã vắng người sang những chuyến đò
Cùng với: Cành biếc run run chân ý nhi (Thu)
Thế rồi trong cái không khí se lạnh đó của thôn quê, những tưởng sẽ không có bóng dáng của con người, ấy vậy mà thật bất ngờ đối với người đọc:
Tựa gối buông cần, lâu chẳng được
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
Hai câu thơ kết thúc đã góp phần bộc lộ đôi nét về chân dung tác giả. Tôi nhớ không lầm dường như đã có tài liệu cho rằng: “tựa gối, ôm cần lâu chẳng được”, “ôm” chứ không phải là “buông”. Theo Việt Nam tự điển thì “buông” hay hơn, phù hợp với tính cách của nhà thơ hơn. Trong những ngày từ quan lui về ở ẩn, mùa thu câu cá, đó là thú vui của nhà thơ nơi làng quê để tiêu khiển trong công việc, để hoà mình vào thiên nhiên, mà quên đi những bận lòng với nước non, cho tâm hồn thanh thản. “Buông”: thả lỏng, đi câu không cốt để kiếm cái ăn (hiểu theo đúng nghĩa của nó), mà để giải trí, cho nên “ôm” không phù hợp với hoàn cảnh. Từ “buông” mang đến cho câu thơ hiệu quả nghệ thuật cao hơn.
Tóm lại, qua Thu điếu, ta phần nào thấy được tấm lòng của nhà thơ đối với thiên nhiên, đối với cuộc sống: chỉ có những ao nhỏ, những “ngõ trúc quanh co”, màu xanh của bầu trời, cũng đã làm say đắm lòng người. Thì ra mùa thu ở thôn quâ chẳng có gì là xa lạ, mùa thu ở thôn quê chính là cái hồn của cuộc sống, cái duyên của nông thôn. Câu cuối này là thú vị nhất, vừa gợi được cảm giác, vừa biểu hiện đựơc cuộc sống ngây thơ nhất với sự việc sử dụng những âm thanh rất trong trẻo có tính chất vang ngân của những cặp vần, đã chiếm được cảm tình của độc giả, đã đọc qua một lần thì khó mà quên được.
|
|
|
| Ðiều Chỉnh |
|
|
| Xếp Bài |
Chế độ bình thường
|
Quuyền Hạn Của Bạn
|
Bạn không thể gởi chủ đề mới
Bạnkhông thể trả lời bài viết
Bạn không thểgởi đính kèm
Bạn không thể thay đổi bài viết
HTML đang Tắt
|
|
|
Múi giờ GMT. Hiện tại là 11:34 AM
Powered by: vBulletin v3.8.5
Copyright ©2000-2013, Jelsoft Enterprises Ltd.
Diễn đàn được xây dựng và phát triển bởi ® TuoiTreQuyNhon.Com ™ 2008-2012.
Đơn vị chủ quản : BQT Tuổi Trẻ Quy Nhơn.Com
Diễn Đàn Chia Sẻ Trao Đổi Học Hỏi Kiến Thức Tuổi Trẻ Quy Nhơn.Com
Liên hệ (0939) 363.169 (Dương Văn Hiếu) -Email :tuoitrequynhon@gmail.com
| | |